· Hình sự · 6 min read
Bình luận khoa học Án lệ số 01/2016/AL về vụ án "giết người"
Ranh giới giữa tội giết người và tội cố ý gây thương tích dẫn đến chết người vốn rất mong manh. Án lệ số 01/2016/AL đã góp phần định hướng thống nhất cách xác định tội danh trong thực tiễn xét xử.

Trước đây, việc xác định ranh giới giữa tội giết người theo quy định tại khoản 1 Điều 93 Bộ luật Hình sự năm 1999 với tội cố ý gây thương tích (dẫn đến hậu quả chết người) theo quy định tại khoản 4 Điều 104 Bộ luật Hình sự năm 1999 là rất khó khăn đối với Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án.
Bởi vậy, trên thực tế, các vụ án có tính chất tương tự nhau nhưng có nơi xác định là giết người, nơi thì xác định cố ý gây thương tích (gây ra hậu quả chết người).
Sự mong manh trong ranh giới định tội danh
Ranh giới xác định tội danh trong trường hợp này thực sự mong manh, do tội giết người (hoàn thành) và tội cố ý gây thương tích (dẫn đến hậu quả chết người) đều có dấu hiệu giống nhau, như hậu quả chết người xảy ra, thực hiện do lỗi cố ý, đều có hành vi khách quan (đánh đập, đâm chém, bắn…).
Việc xác định đúng tội danh có ý nghĩa rất quan trọng, không những đảm bảo xét xử đúng người, đúng tội, tránh sai sót mà còn ảnh hưởng đến việc xác định mức phạt. Nếu là tội cố ý gây thương tích (gây ra hậu quả chết người) thì mức hình phạt tối đa là tù chung thân; nhưng nếu là tội giết người thì mức hình phạt có thể lên đến tử hình.
Thực tế, có nhiều tranh cãi về vấn đề này, cũng như không có hướng dẫn cụ thể từ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nên nhiều trường hợp đã xác định nhầm lẫn giữa hai tội danh, dẫn đến sai sót trong kết quả xét xử, việc định tội danh không đúng với bản chất phạm tội.
Điển hình là trong vụ án này, tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử chỉ căn cứ vào hậu quả xảy ra mà không xem xét đến ý thức chủ quan của người phạm tội (bị cáo có chủ ý giết người hay chỉ là cố ý gây thương tích) nên đã xác định bị cáo phạm tội giết người. Trong khi đó, hành vi của bị cáo và đồng phạm chỉ cấu thành tội cố ý gây thương tích, căn cứ vào lời khai, kết quả nhận dạng của những người làm chứng về các đối tượng liên quan đến vụ án; biên bản khám nghiệm hiện trường; bản giám định pháp y cùng các tài liệu, chứng cứ khác của vụ án.
Theo đó, chủ ý của bị cáo và đồng phạm chỉ dừng lại ở mức độ cố ý gây thương tích cho nạn nhân, không hề mong muốn xảy ra hậu quả nạn nhân bị chết. Việc nạn nhân tử vong là ngoài mong muốn, bị cáo và đồng phạm không thể nhìn thấy trước hậu quả này.
Đóng góp của Án lệ số 01/2016/AL
Với việc ra đời của Án lệ số 01/2016/AL sẽ tạo điều kiện thuận lợi để các cơ quan Tư pháp phân biệt rạch ròi giữa tội danh giết người với tội cố ý gây thương tích (mà gây ra hậu quả chết người).
Dựa vào Án lệ số 01/2016/AL, khi xác định bị cáo có phạm tội giết người hay không, bên cạnh việc xem biểu hiện khách quan và hậu quả của hành vi phạm tội, cần phải xem xét mục đích và ý muốn chủ quan của bị cáo khi thực hiện hành vi phạm tội.
- Trường hợp bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nhằm mục đích giết người, tức là mong muốn dẫn đến hậu quả nạn nhân bị chết thì bị coi là đã cấu thành tội phạm giết người (cho dù thực tế có thể không xảy ra hậu quả chết người, nạn nhân không bị chết).
- Nếu chủ ý của bị cáo thực hiện hành vi phạm tội không nhắm đến hậu quả nạn nhân bị chết, không thể lường trước được hậu quả chết người cho nạn nhân thì không bị coi là phạm tội giết người (cho dù hậu quả chết người có thể xảy ra, nạn nhân bị chết).
Ý nghĩa của việc áp dụng án lệ thống nhất
Như vậy, Án lệ số 01/2016/AL ngoài việc đảm bảo phân định rạch ròi giữa tội danh giết người với tội cố ý gây thương tích (mà gây ra hậu quả chết người) còn đảm bảo áp dụng pháp luật một cách thống nhất trong hoạt động xét xử.
Các vụ án có tính chất, tình tiết tương tự nhau trên lãnh thổ Việt Nam phải được Tòa án định tội danh một cách thống nhất nhằm đảm bảo không sai sót trong xét xử; việc định mức phạt sẽ đúng người, đúng tội.
Điều này đảm bảo quyền lợi chính đáng cho bị cáo (ví dụ: bị cáo với chủ ý cố ý gây thương tích nhưng không may nạn nhân bị chết ngoài mong muốn thì không bị kết án tử hình), cũng như thể hiện sự răn đe phù hợp của hình phạt đối với bị cáo (ví dụ: bị cáo với chủ ý giết người, muốn nạn nhân phải chết; tuy nhiên, nạn nhân không bị chết thì bị cáo cũng phải nhận hình phạt tương xứng với tội danh giết người).
Các trường hợp tương tự có thể áp dụng án lệ
Tòa án có thể áp dụng Án lệ số 01/2016/AL vào các vụ án có tính tương tự. Đơn cử như sau:
- Trong vụ án này, bị cáo thuê người khác tấn công vào chân, tay của nạn nhân; trường hợp bị cáo trực tiếp tấn công vào chân, tay của nạn nhân thì cũng coi là có tính tương tự.
- Trong vụ án này, hung thủ đã dùng dao nhọn để đâm hai nhát vào mặt sau đùi phải của nạn nhân; trường hợp hung thủ dùng dao nhọn để đâm một nhát hay nhiều nhát vào mặt sau đùi phải của nạn nhân (mà không có chủ ý làm nạn nhân chết); hoặc đâm vào mặt sau đùi trái của nạn nhân; hoặc đâm vào tay của nạn nhân thì cũng coi là có tính tương tự.
- Trong vụ án này, hung thủ đã dùng dao nhọn để đâm vào chân nạn nhân; trường hợp hung thủ dùng kéo để đâm; hoặc dùng gậy để đánh; hoặc dùng súng để bắn vào chân, tay của nạn nhân thì cũng coi là có tính tương tự.
- án lệ
- tội giết người
- cố ý gây thương tích
- bộ luật hình sự
- định tội danh
- xét xử hình sự