· Tranh chấp dân sự · 6 min read
Bình luận khoa học Án lệ số 02/2016/AL về vụ án "tranh chấp đòi lại tài sản"
Phân tích Án lệ số 02/2016/AL về tranh chấp đòi lại tài sản khi người Việt Nam định cư ở nước ngoài nhờ người khác đứng tên nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, cùng những vướng mắc còn bỏ ngỏ.

Bối cảnh phát sinh tranh chấp
Căn cứ vào Luật đất đai năm 1993, người Việt Nam định cư ở nước ngoài chỉ được sử dụng đất đai tại Việt Nam theo hình thức thuê đất; không được nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Bởi vậy, trên thực tế nhiều người Việt Nam định cư ở nước ngoài đã bỏ tiền ra nhằm nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại Việt Nam nhưng trên giấy tờ thì nhờ người khác (đủ điều kiện nhận chuyển nhượng quyền sử đất tại Việt Nam) đứng tên thay.
Không ít trường hợp người đứng tên thay đã tự ý chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho người khác (khi chưa có sự đồng ý của người Việt Nam định cư ở nước ngoài) và chiếm luôn số tiền thu được từ việc chuyển nhượng. Từ đó, dẫn đến tranh chấp phát sinh giữa người Việt Nam định cư ở nước ngoài (trên thực tế đã bỏ tiền ra để nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất) với người được nhờ đứng tên thay trên mặt giấy tờ.
Khi tranh chấp được các bên yêu cầu Tòa án xử lý thì Tòa án lại bị lúng túng, khó khăn trong việc phán quyết sao cho đúng pháp luật, phù hợp với tình hình thực tiễn. Điển hình, trong vụ án này, lúc thì Tòa án chấp nhận số tiền lợi nhuận thu được từ chuyển nhượng quyền sử dụng đất thuộc về người Việt Nam định cư tại nước ngoài và người đứng tên thay trên giấy tờ; lúc thì số tiền này phải nộp vào công quỹ Nhà nước…
Cơ sở pháp lý xác định giao dịch vô hiệu
Rõ ràng việc đứng tên thay nhằm hợp thức hóa việc nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong trường hợp này rơi vào trường hợp giao dịch vô hiệu do giả tạo theo Điều 129 Bộ luật Dân sự năm 2005, cụ thể là giao dịch đứng tên thay này nhằm che giấu một giao dịch khác. Đồng thời, trên thực tế việc nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của người Việt Nam định cư ở nước ngoài trong trường hợp này cũng bị vô hiệu theo Điều 128 Bộ luật Dân sự năm 2005, cụ thể giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật.
Căn cứ vào khoản 2 Điều 137 Bộ luật Dân sự năm 2005, khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận; nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì phải hoàn trả bằng tiền, trừ trường hợp tài sản giao dịch, hoa lợi, lợi tức thu được bị tịch thu theo quy định của pháp luật. Bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường.
Tuy nhiên, pháp luật lại không có một hướng dẫn cụ thể nào để giải quyết hậu quả khi giao dịch dân sự vô hiệu nhằm hài hòa lợi ích chính đáng của các bên. Thế nên, trong quá trình xét xử đã phát sinh nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề này.
Nội dung giải pháp của Án lệ số 02/2016/AL
Án lệ số 02/2016/AL không thừa nhận quyền sử dụng đất của người Việt Nam định cư ở nước ngoài (người mà trên thực tế đã bỏ tiền ra nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất) và người đứng tên thay trên mặt giấy tờ. Tuy nhiên, án lệ thừa nhận các nội dung sau đây:
- Thứ nhất, phần giá trị đầu tư chi trả cho việc hình thành quyền sử dụng đất (cụ thể là nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất) của người Việt Nam định cư ở nước ngoài.
- Thứ hai, công sức đóng góp của người đứng tên thay trong việc quản lý, gìn giữ và tôn tạo làm tăng giá trị của đất. Trong trường hợp không thể xác định công sức đóng góp mỗi người bao nhiêu thì người trực tiếp bỏ tiền ra đầu tư và người đứng tên thay sẽ được coi là có công sức ngang nhau và chia đôi khoản tiền lợi nhuận.
Với sự ra đời của Án lệ số 02/2016/AL, phần nào đã giúp Tòa án giải quyết vướng mắc liên quan đến việc phân chia quyền lợi giữa người Việt Nam định cư ở nước ngoài đã bỏ tiền ra để nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên thực tế và người đứng tên thay trên mặt giấy tờ khi giao dịch bị tuyên vô hiệu.
Dễ dàng nhận thấy, trong quan hệ giữa hai bên đều có lỗi, cả hai có trách nhiệm nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Đồng thời, Án lệ số 02/2016/AL cũng thừa nhận phần đóng góp của hai bên trong phần giá trị của quyền sử dụng đất.
Những hạn chế còn tồn tại
Tuy nhiên, Án lệ số 02/2016/AL vẫn chưa đưa ra được giải pháp để xác định công sức đóng góp của mỗi bên trong trường hợp này một cách phù hợp, đúng với tình hình thực tế. Mà chỉ dừng lại ở chỗ khi chưa tìm được giải pháp để xác định công sức đóng góp của mỗi bên thì coi công sức của hai bên như nhau, chia đều quyền lợi. Như vậy, việc phân chia quyền lợi trong trường hợp này vẫn còn khiên cưỡng, chưa đánh giá đúng tình hình thực tế.
Rõ ràng vấn đề tìm ra giải pháp để xác định công sức đóng góp của mỗi bên trong trường hợp này là rất phức tạp, khó khăn. Bởi vậy, rất cần những chuyên gia, Tòa án, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và cá nhân, tổ chức khác nghiên cứu để sớm có giải pháp phù hợp nhằm đảm bảo được quyền lợi chính đáng cho các bên.
Phạm vi áp dụng án lệ cho các vụ án tương tự
Tòa án có thể áp dụng Án lệ số 02/2016/AL vào các vụ án có tính tương tự. Đơn cử như sau:
- Trong vụ án này người nhờ đứng tên thay là Việt kiều Hà Lan; trường hợp là Việt kiều khác (Anh, Đức, Hoa Kỳ…) thì cũng coi là có tính tương tự.
- Trong vụ án này người nhờ đứng tên thay là Việt kiều; trường hợp là người nước ngoài (người không có quốc tịch Việt Nam) thì cũng coi là có tính tương tự.
- Trong vụ án này đầu tư vào quyền sử dụng đất; trường hợp đầu tư vào nhà ở, cửa hàng,… thì cũng coi là có tính tương tự.
- Trong vụ án này đầu tư bằng vàng; trường hợp đầu tư bằng tiền đồng Việt Nam, ngoại tệ thì cũng coi là có tính tương tự.
- Trong vụ án này người đứng tên thay là cá nhân; trường hợp là tổ chức thì cũng coi là có tính tương tự.
- án lệ
- tranh chấp đòi lại tài sản
- quyền sử dụng đất
- người việt nam định cư ở nước ngoài
- giao dịch dân sự vô hiệu
- bộ luật dân sự