· Tranh chấp dân sự  · 5 min read

Bình luận khoa học Án lệ số 09/2016/AL về xác định lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường và việc trả lãi trên số tiền phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại

Phân tích chuyên sâu Án lệ số 09/2016/AL về cách xác định lãi suất nợ quá hạn trung bình và nguyên tắc không tính lãi trên tiền phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại trong hợp đồng.

Phân tích chuyên sâu Án lệ số 09/2016/AL về cách xác định lãi suất nợ quá hạn trung bình và nguyên tắc không tính lãi trên tiền phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại trong hợp đồng.

Nguyên tắc không tính lãi trên tiền phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại

Án lệ số 09/2016/AL khẳng định không tính lãi với số tiền phạt vi phạm hợp đồng, tiền bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng là hoàn toàn đúng pháp luật, phù hợp với thực tiễn.

Bởi lẽ, quyền yêu cầu tiền lãi do chậm thanh toán được quy định một cách độc lập (quy định riêng tại Điều 306 Luật Thương mại năm 2005); có nghĩa tiền lãi do chậm thanh toán là một chế tài bên cạnh chế tài phạt vi phạm hợp đồng và bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng.

Nếu tính lãi suất đối với số tiền phạt vi phạm hợp đồng, tiền bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng là chế tài chồng chế tài, làm thiệt hại nghiêm trọng đến quyền lợi của bên vi phạm hợp đồng.

Đồng thời, không có quy định nào nói đến tiền lãi đối với số tiền phạt vi phạm hợp đồng, tiền bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng, mà chỉ quy định rằng: “Trường hợp bên vi phạm hợp đồng chậm thanh toán tiền hàng hay chậm thanh toán thù lao dịch vụ và các chi phí hợp lý khác thì bên bị vi phạm hợp đồng có quyền yêu cầu trả tiền lãi trên số tiền chậm trả đó theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác”.

Ý nghĩa thống nhất cách tính tiền lãi chậm thanh toán

Với sự ra đời của Án lệ số 09/2016/AL, Tòa án phần nào được thống nhất cách tính tiền lãi do chậm thanh toán số tiền ứng trước mà không nhận được hàng.

Theo đó, trong trường hợp này, Tòa án cần lấy mức lãi suất quá hạn trung bình của ít nhất ba ngân hàng tại địa phương (Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam, Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam, Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam…) để tính lại tiền lãi do chậm thanh toán; không áp dụng mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tại thời điểm xét xử sơ thẩm.

Tuy nhiên, với nội dung này vẫn còn những hạn chế nhất định.

Những hạn chế còn tồn tại

Thứ nhất: chưa giới hạn số lượng ngân hàng tối đa

Án lệ số 09/2016/AL đưa ra số ngân hàng tối thiểu là 03 mà không giới hạn số lượng tối đa để xác định mức lãi suất quá hạn trung bình.

Việc tính trung bình lãi suất với sự tham gia của càng nhiều ngân hàng thì mức lãi suất sẽ càng gần mặt bằng chung lãi suất thị trường tại thời điểm thanh toán. Tuy nhiên, sự chênh lệch lãi suất là điều không thể tránh khỏi khi so sánh một phép tính dùng 03 ngân hàng và một phép tính dùng nhiều ngân hàng hơn làm căn cứ.

Sự chênh lệch dù ít hay nhiều vẫn dẫn đến những mâu thuẫn và tranh chấp giữa các bên. Đặc biệt, nếu sự chênh lệch lãi suất đó được đặt trong bối cảnh giá trị nợ lớn, mức chênh lệch theo đó sẽ càng nhiều. Khi đấy, Tòa án sẽ không biết lấy con số nào để xác định cho phù hợp.

Bởi vậy, về vấn đề lãi suất trong trường hợp này thì Án lệ số 09/2016/AL chưa đảm bảo được sự thống nhất trong xét xử giữa các Tòa án.

Thứ hai: chưa làm rõ khái niệm “địa phương”

Tuy Án lệ số 09/2016/AL đã giới hạn phạm vi để lựa chọn ngân hàng trong việc tính lãi suất bằng quy định “ngân hàng tại địa phương”. Tuy nhiên, Tòa án sẽ vô cùng lúng túng và không biết áp dụng như thế nào.

Bởi lẽ, địa phương ở đây được hiểu là gì: địa phương là trong đơn vị hành chính cấp xã, cấp huyện hay cấp tỉnh; địa phương là nơi xảy ra vi phạm hợp đồng hay là địa phương của nguyên đơn, bị đơn…

Như vậy, Án lệ số 09/2016/AL vẫn chưa giải quyết được triệt để vấn đề này.

Các trường hợp có tính tương tự để áp dụng án lệ

Tòa án có thể áp dụng Án lệ số 09/2016/AL vào các vụ án có tính tương tự, đơn cử như sau:

  • Trong vụ án này tranh chấp liên quan đến hợp đồng kinh tế giữa hai Công ty cổ phần với nhau; trường hợp tranh chấp liên quan đến hợp đồng kinh tế giữa Công ty cổ phần với Công ty trách nhiệm hữu hạn, cá nhân, tổ chức… thì cũng coi là có tính tương tự.
  • Trong vụ án này hàng hóa là phôi thép; trường hợp hàng hóa là phôi nhôm, phôi đồng… thì cũng coi là có tính tương tự.
  • Trong vụ án này tranh chấp phát sinh khi Bộ luật Dân sự 2005 đang có hiệu lực thi hành; trường hợp tranh chấp phát sinh lúc Bộ luật Dân sự 2015 có hiệu lực thi hành thì cũng coi là có tính tương tự.
  • án lệ 09/2016/al
  • lãi suất nợ quá hạn
  • phạt vi phạm hợp đồng
  • bồi thường thiệt hại
  • luật thương mại 2005
  • bình luận án lệ
Share: